Quy định về phong hàm cấp tướng trong dự thảo Luật công an nhân dân (sửa đổi)

Thứ Sáu, 27/09/2013, 10:07 [GMT+7]

(BNCTW) - Điều 24 Luật công an nhân dân năm 2005 quy định về hệ thống cấp bậc hàm của sĩ quan Công an nhân dân. Theo đó, cấp bậc hàm của sĩ quan đảm nhiệm chức vụ cơ bản trong Công an nhân dân được quy định như sau: (1) Tiểu đội trưởng: Thiếu úy, Trung úy, Thượng úy; (2) Trung đội trưởng: Trung úy, Thượng úy, Đại úy; (3) Đại đội trưởng: Thượng úy, Đại úy, Thiếu tá; (4) Tiểu đoàn trưởng, Trưởng Công an phường, thị trấn; (5) Đội trưởng: Thiếu tá, Trung tá; (6) Trung đoàn trưởng, Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Trưởng phòng: Trung tá, Thượng tá; (7) Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng, Vụ trưởng: Thượng tá, Đại tá; (8) Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Tư lệnh cảnh vệ: Đại tá, Thiếu tướng; (9) Tổng cục trưởng: Thiếu tướng, Trung tướng; (10) Bộ trưởng: Thượng tướng, Đại tướng. Sĩ quan giữ chức vụ cơ bản ở đơn vị được giao nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt hoặc địa bàn có vị trí trọng yếu về an ninh, trật tự thì cấp bậc hàm cao nhất có thể cao hơn một bậc so với cấp bậc hàm cao nhất của chức vụ tương ứng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 24.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao quyết định thăng cấp bậc hàm Thượng tướng công an cho 3 Thứ trưởng Bộ Công an ngày 22-7-2013
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao quyết định thăng cấp bậc hàm Thượng tướng công an cho 3 Thứ trưởng Bộ Công an ngày 22-7-2013

Như vậy, Luật công an nhân dân hiện hành quy định mỗi chức vụ trong Công an nhân dân có từ 2 đến 3 cấp bậc hàm, có cấp bậc hàm thấp nhất và cấp bậc hàm cao nhất; đồng thời, chưa quy định cụ thể, rõ ràng việc phong, thăng cấp bậc hàm cấp Tướng cũng như việc xác định đơn vị được giao nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt, địa bàn có vị trí trọng yếu về an ninh, trật tự để có chính sách phù hợp với sĩ quan, hạ sĩ quan tại các đơn vị, địa bàn này nên vận dụng quy định này trên thực tế còn nhiều bất cập.

Nhằm khắc phục bất cập nêu trên, dự thảo Luật công an nhân dân (sửa đổi) đã quy định cấp bậc hàm cao nhất đối với chức vụ của sĩ quan Công an nhân dân. Theo đó, Điều 23 dự thảo Luật quy định cụ thể các chức vụ của sĩ quan Công an nhân dân có cấp bậc hàm cao nhất cấp Úy, cấp Tá, cấp Tướng. Đặc biệt, quy định chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng như sau: (1) Chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng gồm: Cục trưởng cục hạng 2 thuộc các tổng cục; Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (trừ quy định tại điểm đ, khoản 3 Điều này); Giám đốc Học viện (trừ quy định tại điểm e, khoản 3 Điều này); Hiệu trưởng trường đại học, trường cao đẳng trong Công an nhân dân. Phó tư lệnh; cấp phó của sĩ quan quy định tại các điểm c, d, đ và e, khoản 3 Điều này. (2) Chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Trung tướng gồm: Tổng cục trưởng, Tư lệnh; Phó Tổng cục trưởng; Chánh văn phòng Bộ, Chánh thanh tra Bộ; Cục trưởng đơn vị trực thuộc Bộ; Cục trưởng cục hạng 1 thuộc các tổng cục; Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, Giám đốc Công an thành phố Hồ Chí Minh; Giám đốc Học viện An ninh nhân dân, Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân. (3) Chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Thượng tướng là Thứ trưởng Bộ Công an. (4) Chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Đại tướng gồm Bộ trưởng Bộ Công an và Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an.

Như vậy, có thể thấy, so với Luật công an nhân dân hiện hành thì dự thảo Luật đã nâng trần và mở rộng diện chức vụ có trần cấp hàm Tướng ở hầu hết các chức vụ tương ứng. Quy định như vậy một mặt chưa khắc phục được những vướng mắc, bất cập hiện hành; mặt khác, có thể dẫn đến số lượng sĩ quan cấp Tướng tăng cao, tạo nên những bất cập mới, phức tạp hơn sau khi Luật có hiệu lực thi hành. Nhất là quy định Giám đốc công an cấp tỉnh có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng, ngang bằng với chức vụ Cục trưởng là không hợp lý, làm tăng số lượng Tướng, đặc biệt là số lượng sĩ quan cấp Tướng của Quân đội nhân dân có các chức vụ tương đương ở cấp tỉnh sẽ tăng rất cao so với hiện nay. Việc nâng trần cấp hàm cao nhất của Giám đốc công an cấp tỉnh là Thiếu tướng cũng sẽ kéo theo hệ quả nâng cấp hàm cao nhất của các chức vụ lãnh đạo cấp phòng ở Công an cấp tỉnh, công an huyện, công an phường lên trần Đại tá, Thượng tá, phá vỡ sự cân đối về cơ cấu hệ thống cấp bậc hàm trong Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân và hệ thống chế độ, chính sách với chức danh lãnh đạo trong hệ thống chính trị ở địa phương.

Mặt khác, dự thảo Luật cũng chưa làm rõ tiêu chí, căn cứ để xác định cục hạng 1 và cục hạng 2 và bảo đảm sự tương quan với một số chức danh tương ứng trong Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam. Chưa quy định rõ quân hàm cấp tướng là có thời hạn hay suốt đời; khi sĩ quan giữ quân hàm cấp tướng có sự điều chuyển vị trí công tác theo điều động, biệt phái, luân chuyển thì còn giữ hay thôi quân hàm cấp tướng. Việc quy định cụ thể vấn đề này là cơ sở quan trọng cho việc quy định các chế độ, chính sách đối với sỹ quan Công an nhân dân giữ quân hàm cấp tướng. Đây cũng là vấn đề thực tiễn đã đặt ra trong thời gian qua cần phải được quy định cụ thể trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật công an nhân dân lần này.

Với cách tiếp cận nêu trên, quy định chính sách phong hàm cấp tướng trong lực lượng Công an nhân dân cần quán triệt đầy đủ tinh thần Thông báo 111-TB/TW ngày 08-11-2012 của Bộ Chính trị; bảo đảm nguyên tắc phong hàm cấp tướng đúng mục đích, ý nghĩa, hiệu quả, hiệu lực của công tác lãnh đạo, chỉ huy trong lực lượng Công an nhân dân và phù hợp với yêu cầu xây dựng Công an chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo đảm tương quan chung giữa các thế hệ sĩ quan, giữa số lượng cấp tướng với đội ngũ sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong từng thời kỳ và với từng chức vụ có quân hàm tướng với số sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền lãnh đạo, chỉ huy. Việc phong cấp hàm tướng cũng cần tránh tâm lý cho rằng để giải quyết chính sách cán bộ mà không phải là do yêu cầu chỉ huy, lãnh đạo trong Công an nhân dân. Do đó, cần quy định cấp bậc hàm cao nhất của Giám đốc Công an tỉnh tương đương với cấp bậc hàm cao nhất của Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự cấp tỉnh để bảo đảm sự thống nhất với vị trí lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang ở địa phương (Giám đốc Công an tỉnh có cấp bậc hàm cao nhất là Đại tá, trừ Giám đốc Công an thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là Thiếu tướng như Luật hiện hành).

Đồng thời, dự thảo Luật cần xác định rõ các tiêu chí để phong hàm cấp Tướng (căn cứ chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động, quy mô, phạm vi quản lý của đơn vị); các điều kiện, tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, trình độ, quá trình cống hiến, căn cứ chức vụ theo cấp bậc hàm, bảo đảm thứ bậc giữa cấp trưởng và cấp phó, độ tuổi của người giữ chức vụ được xét thăng hàm cấp Tướng, thời hạn xét thăng hàm cấp Tướng; tính toán phù hợp tỷ lệ sĩ quan cấp Tướng trên tổng biên chế lực lượng Công an nhân dân.

Nguyễn Thảo

(Ban Nội chính Trung ương)

;
.